Thursday, May 2, 2013

Tướng Nguyễn Huy Hiệu viết về Đại thắng mùa Xuân


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong 55 ngày đêm của quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. 

Đây là điểm hội tụ những sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam; khẳng định sự đúng đắn về lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng; về sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và phát huy nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm trong lịch sử giữ nước oanh liệt của dân tộc, ở thời đại Hồ Chí Minh ta có chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và đến chiến cuộc mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, là những biểu hiện đặc sắc nhất tài năng sáng tạo của Đảng và nhân dân ta trong nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh để giành thắng lợi. Nghệ thuật đó thể hiện sâu sắc tính kế thừa truyền thống dân tộc, vừa đậm nét tính sáng tạo trong thời đại mới.

Tướng Nguyễn Huy Hiệu
Tướng Nguyễn Huy Hiệu


Trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ta đã thực hiện thành công phương châm chiến lược đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch. 

Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, nhờ có nghệ thuật chỉ đạo chỉ huy tài giỏi, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, phát hiện sớm và nhạy bén nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, sử dụng nghệ thuật mưu kế trên nền tảng chiến tranh nhân dân, phát triển tiến công táo bạo và thần tốc, đánh địch bất ngờ và liên tục, nên chiến cuộc mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn bằng ba đòn chiến lược: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Sài Gòn. 

Đó là nghệ thuật sử dụng lực lượng khôn khéo để luôn đánh địch trên thế mạnh, tạo nên sức mạnh áp đảo quân địch trong chiến đấu, thực hiện những chiến dịch đánh tiêu diệt lớn bằng các đòn chiến lược, buộc địch từ chỗ bị đánh bất ngờ đến bị động lúng túng phải co cụm chiến lược rồi rút lui chiến lược mà dẫn đến sự tan rã và bị thất bại hoàn toàn, thực hiện trọn vẹn mục tiêu: “đánh cho ngụy nhào”.

Với 55 ngày đêm cuối cùng của cuộc kháng chiến kéo dài 21 năm, chúng ta đã tập trung toàn bộ sức lực, trí tuệ của cả một dân tộc, đấu mưu, đấu trí một cách quyết liệt nhất để đi đến giành thắng lợi trọn vẹn.
Mưu kế lập ra “hình trận” và “thế trận”, tạo ra “thời cơ” làm cho địch nhiều mà hóa ít. 

Mở đầu chiến cuộc mùa Xuân 1975 mưu kế chiến lược của ta đã tạo ra một hình trận chiến lược rất đẹp là ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến ở Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng, bằng cách áp sát các quân đoàn chủ lực của ta (Quân đoàn 1 ở bờ Bắc sông Bến Hải, Quân đoàn 2 ở Tây Huế và Quân đoàn 4 ở Đông Bắc Sài Gòn) vào gần các khu vực trọng yếu đó, buộc địch phải tập trung cả hai sư đoàn tổng dự bị chiến lược vào Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng, để sơ hở khoảng giữa là Tây Nguyên. 

Hình trận này đã tạo ra thế trận có lợi cho mặt trận Tây Nguyên. Đây là cách nghi binh chiến lược cho đòn tấn công vào quân địch ở Tây Nguyên. Khi địch đã bị giữ chặt ở Huế và Sài Gòn thì ta mở cuộc tiến công lớn ở Tây Nguyên là nơi địch sơ hở và công phá vào Buôn Ma Thuột lại là nơi hiểm yếu của khâu yếu nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. 

Mưu kế chiến lược tiếp theo là bí mật đưa hai sư đoàn nữa lên Tây Nguyên là mưu kế hay của Bộ Thống soái mà trực tiếp là Tổng Tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Do đột ngột tăng cho tây Nguyên Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 mà địch không hay biết, không kịp đối phó, thành ra tại thời điểm đó ở Tây Nguyên có 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập cùng các binh chủng chiến đấu hùng mạnh, được phối hợp với Sư đoàn 3 (Quân khu 5) đã tạo nên quả đấm thép làm cho lực lượng ta vượt trội hơn địch. 

Ở Tây Nguyên, quân ta từ một lực lượng chiến dịch bỗng trở thành một lực lượng chiến lược. Quả đấm thép đó đã đủ sức mạnh đánh ghìm địch ở Plây-cu; cắt Đường 19 và Đường 14; phá vỡ Buôn Ma Thuột và chủ động đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn, làm nên đột biến về chiến tranh. 

Hai sư đoàn và thời cơ tăng thêm cho Tây Nguyên là cái nút trong mưu kế chiến lược đánh bại địch trong chiến cuộc mùa Xuân năm 1975. Địa điểm và thời cơ sử dụng hai sư đoàn này là “chữ thời” về tài năng và trí tuệ trong nghệ thuật chỉ huy.

Ở Tây Nguyên thế trận của ta là nhằm phá vỡ chỗ yếu nhất của đich là ở Buôn Ma Thuột, để từ trên cao phát triển xuống đồng bằng. Mưu kế đó là: nghi binh thu hút, ghìm địch ở đầu manh, để tiến công phá vở địch ở đầu yếu. Mưu kế chiến dịch là đáng nghi binh ở phía Bắc Tây Nguyên; tập trung sức mạnh tiến công địch ở phía Nam. 

Hình trận chiến dịch ở Tây Nguyên còn được thể hiện trong việc sử dụng “chính-kỳ”. Ở giai đoạn đầu, Sư đoàn 968 được sử dụng như một mũi chính binh, nhưng thực chất lại là đánh nghi binh; còn Sư đoàn 316, các Trung đoàn 24, 95B và các binh chủng là chính binh nhưung được sử dụng một cách bí mật làm kẻ địch bị mất ngờ nên có tính chất như một tập đoàn kỳ binh. 

Nhưng sau đó khi thế trận đã bắt đầu chuyển hóa thì “chính”, “kỳ” cũng biến hóa một cách linh hoạt. Quá trình thưc hành tấn công địch ở Tây Nguyên, ta dùng lực lượng tương đối lớn (Sư đoàn 968) đánh nghi binh lừa địch ở phía Bắc trước hết nhằm vào Plây-cu làm cho địch tin rằng ta sẽ mở chiến dịch ở Bắc Tây Nguyên. Đó là nghệ thuật nghi binh thần kỳ. 

Trong khi đó các đơn bị chủ lực bí mật di chuyển xuống Nam Tây Nguyên (Sư đoàn 10 tiến về Đức Lập, Sư doàn 320 đứng chấn ở Tây Cẩm Ga). Sư đoàn 326 tiến vào Buôn Ma Thuột, tiếp đến Sư đoàn 3 (Quân khu 5) và Trung đoàn 95A đánh cắt Đường 19. 

Sư đoàn 320 đánh cắt Đường 14, Trung đoàn 25 cắt Đường 21, tạo ra tthế trận chia cắt địch về chiến lược và chiến dịch, làm cho các cụm quân địch bị cô lập, tách rời nhau, không thể chi viện được cho nhau, tạo thế trận cho Nam Tây Nguyên tập trung đòn đánh vào Buôn Ma Thuột được thuận lợi. 

Nhờ đó các mũi đánh chính kết hợp với mũi thọc sâu, vu hồi đã đánh bại một cách nhanh chóng, chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột, hoàn thành trận đánh then chốt. Hình trận bao giờ cũng cần có lực lượng dự bị - đội dự bị để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. 

Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta đã linh hoạt, chủ động sử dụng ngay Sư đoàn 10 về làm đội dự bị để sẵn sàng đánh địch phản kịch. Sư đoàn 10 sau khi đánh Đức Lập xong chuyển về Buôn Ma Thuột vừa bố trí đón lõng đánh địch ở nơi ta dự kiến chúng sẽ đổ quân, vừa tiến ông trong hành tiến nên đã đánh bại phản đôt kịch của Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn hòng ứng cứu chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Sau khi mất Buôn Ma Thuột và Sư đoàn 23 phản kích bị đánh bại, tất cả các thủ đoạn tác chiến, các hình thức chiến thuật của địch bị đánh bại ở Tây Nguyên, gây ra một sự đột biến về chiến dịch tác động lớn đến chiến lược của chiến dịch, làm hoảng loạn về tư tưởng và thế bố trí chiến lược của địch; buộc địch phải rút lui để co cụm phòng ngự. 

Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu liều ra lệnh rút chạy khỏi Tây Nguyên. Khi quân địch rút chạy liền bị quân ta truy kích và đã tiêu diệt phần lớn, phản ứng dây chuyền đó tạo ra đột biến về chiến dịch; chiến dịch đã thắng lợi lại càng thắng lợi hơn, thắng lợi một cách đột ngột, rất nhanh, tạo ra đột biến về chiến tranh.

Chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên là khởi điểm dẫn đến sự tan rã và suy sụp về chiến lược của địch, đồng thời đã cổ vũ, động viên rất mạnh mẽ khí thế của quân và dân ta ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, càng củng cố quyết tâm chiến đấu, lòng tin vào thắng lợi cuối cùng và tạo đà cho quân và dân ta đánh đòn thứ hai ở Huế - Đà Nẵng và mở trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định.
Thế trận chiến lược phát triển đã tạo ra thời cơ chiến lược. 

Trong khi chiến dịch tây Nguyên đang trên đà thắng lơn, ta nhanh chóng đánh địch ở Huế và Đà Nẵng, đến khi chiến dịch Tây Nguyên vừa kết thúc thắng lợi thì đã hoàn thành bước một (giải phóng Thừa Thiên – Huế). Khi tiếng công Đà Nẵng kết thúc thắng lợi, ta đã dồn được toàn lực vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó là thời co chiến lược. 

Trên đà chiến thắng, các binh đoàn chủ lực của ta hành tiến với khí thế “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng”. Sau khi đập tan tuyến phòng ngự từ xa Phan Rang, cùng với việc giải phóng Bình Thuận, Ninh Thuận, quần đảo Trường Sa, đihcj bị tan vỡ từng mảng một cách nhanh chóng và đột ngột. CHỉ huy đich rối loạn, chiến lược của chúng chuyển sang bị động đối phó và rút lui.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ngày càng quyết liệt. Ta tập trung toàn lực cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. 17 giờ ngày 24-4-1975 thực hành tổng công kích, năm cánh quân của ta gồm 4 quân đoàn chủ lực và Đoàn 232 trong thế bao vậy Sài Gòn, từ vị trí xuất phát tiến công được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. 

Với sức mạnh của 15 sư đoàn và mũi thọc sâu của lữ đoàn xe tăng, 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975 quân ta đánh chiếm dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các chính phủ Sài Gòn, Chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975, điểm hội tụ sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn về lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta; về sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; về phát huy nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc để chống lại mọi cuộc chiến tranh xâm lược là “dĩ đoản chế trường”; “thế thắng lực”; “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” vận dụng thế thời một cách tài tình, sáng tạo.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thẳng đã đưa đất nước ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vẻ vang đó mãi mãi cổ vũ và vẫn sẽ là những bài học rất quý báu cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của các thế hệ chúng ta ngày nay và mai sau.

Ngày nay, chiến tranh hiện đại thường sẽ là chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Để bảo vệ Tổ quốc, đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của đich đòi hỏi chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nahnh dân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Muốn vậy ta phải có vũ khí trang bị hiện đại, có tinh thần quyết tâm cao độ. 

Chiến đấu đánh địch ở trên bộ cũng quan trọng như đánh địch ở trên không. Phải đánh mạnh, đánh đau thì mới đánh bại được ý chí xâm lược của địch. Ta có kém địch về vũ khí thì phải vận dụng phương châm lấy hiện đại là chính kết hợp với thô sơ và có một phần vũ khí công nghệ cao để đánh lại hiện đại tinh xảo. 

Tinh thần ý chí chiến đấu của toàn dân, toàn quân dưới sự lạnh đạo của Đảng, tài thao lược và trí tuệ tinh hoa sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam vẫn là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi.

(VTC)

Ba Sàm lại nói sàm “Gọi tên gì cho cuộc chiến?”


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã thằng lợi hoàn toàn sau chiến thắng Mùa Xuân năm 1975. Cái mốc lịch sử 30 tháng 4 năm 1975 đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trọng đại của dân tộc, lần đầu tiên sau 117 năm (kể từ 1858 đến 1975) đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược. Cuộc chiến giải phóng dân tộc từ tay xâm lược Mỹ đã thắng lợi hoàn toàn, đất nước được độc lập. Lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng đắt bắt đầu sang một trang mới. Sau 38 năm nhìn lại, chúng ta vẫn tự hào đã làm nên kì tích kháng chiến, và đó là cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc.
Tiếc thay, vẫn còn có nhiều kẻ muốn xuyên tạc, bóp méo lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, trong đó có ngày chiến thắng 30/4/1975. Có kẻ còn nói: “Người Mỹ không thua vì tổng số thương vong, người Mỹ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương”; hay: “Cuộc chiến tranh này với mục tiêu ngăn chặn làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á đã thành công nên không thể nói là Chính phủ Mỹ thất bại”(!). Và mới đây, ngay ngày hôm qua, trên FB của mình, Nguyễn Hữu Vinh, chủ blog Basam đã có một đoạn văn với cái tít “gọi tên gì cho cuộc chiến”. Điều đáng nói là Nguyễn Hữu Vinh là một người am hiểu về lịch sử dân tộc, đã và đang tiếp tục viết thứ gọi là “Việt Sử Ký” nhưng lại nói những điều phỉ báng và xuyên tạc lịch sử dân tộc.
Biết bao người con của dân tộc đã ngã xuống, biết bao trận chiến suốt hàng thế kỷ. Đất nước Việt Nam mới được thống nhất
Ông Nguyễn Hữu Vinh viết: “Không thể gọi đây là cuộc chiến “Chống ngoại xâm”, “Giải phóng miền Nam” hay chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”… bởi vì trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, đã xảy ra chiến tranh ở 2 miền Nam – Bắc và sau khi Mỹ rút quân thì Nam – Bắc vẫn tiếp tục đánh nhau (vả lại, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam thì ở miền Bắc cũng đã có sự hiện diện của của quân Liên Xô và Trung Quốc).”.
Tôi không tin là ông Nguyễn Hữu Vinh không hiểu lịch sử, không thuộc lịch sử dân tộc, tôi cũng không bàn lý do vì sao ông lại viết như vậy, với hiểu biết nông cạn của mình, tôi chỉ xin nói lại vài điều.
Thứ nhất, ông Vinh đặt vấn đề tên gọi của cuộc chiến. Xin lỗi ông Vinh là cuộc chiến đó đã có cái tên do dân tộc Việt Nam đặt, cái tên ấy đã đi vào lịch sử, vào giáo khoa, vào văn hóa và vào tâm thức của người Việt Nam, đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Thiết nghĩ, ông Nguyễn Hữu Vinh không có tư cách gì để đặt tên cho cuộc chiến thần thánh của dân tộc. Cuộc chiến trước 1975 là cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ của dân tộc Việt Nam. Điều này mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử và tâm tư tình cảm của dân tộc. Kẻ nào cố tình xuyên tạc bóp méo sự kiện lịch sử này là không còn chỗ đứng nào nữa, không còn tư cách nào nữa, và tất yếu sẽ bị lịch sử gạt qua ngoài lề.
Nếu chưa hiểu về bản chất cuộc chiến thì vào Box Đại Sảnh của Diễn đàn Lịch sử Việt Nam để đọc các công trình nghiên cứu hàn lâm, các khảo cứu tài liệu của các học giả trong ngoài nước, xem các học giả nước ngoài, kể cả các học giả Mỹ nói gì về cuộc chiến, xem các “tổng thống”, “lãnh đạo”, tướng tá sĩ quan ngụy nói gì về cuộc chiến.
Bộ đội thừa thắng xông lên sau khi hạ gục những tên lính Mỹ.
Xin trích lại một vài ý kiến về cuộc chiến mà ông Nguyễn Hữu Vinh đang âm mưu đặt lại tên và ý nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, là một cựu sĩ quan nguỵ từng là giảng viên Trường sĩ quan Trừ bị Nam Định: “Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không “Quốc gia” không Cộng sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.”
Một người chuyên bình luận sử trên Diễn đàn Lịch sử Việt Nam có nickname Gươm Vàng đã viết thế này: “Rất nhiều cựu tướng tá sĩ quan Sài Gòn đã vui mừng nói về ngày 30/4 như là 1 ngày đại thắng của dân tộc, như ông Nguyễn Hữu Hạnh, Trần Chung Ngọc, Trần Văn Thông. Các trang web của các cựu sĩ quan SG như dongduongthoibao.net của của ông Trần Thông, sachhiem.net của ông Nguyễn Mạnh Quang, kbchn.net của ông Nguyễn Phương Hùng cũng đăng về NGÀY TOÀN THẮNG 30/4″.
Lính Mỹ rút chạy
Ngay cả siêu phản động như Bùi Tín mà còn biết nói câu “Ngày 30/4 không có miền Bắc thắng hay miền Nam bại, chỉ có đế quốc Mỹ là kẻ bại trận và nhân dân Việt Nam là người chiến thắng”, và hắn nói câu này bên Paris, Pháp sau khi hắn đã phản bội chứ không phải hồi hắn còn ở VN, chính vì câu này nên hắn mới bị bọn ba que chửi.
Một bạn trẻ viết trên diễn đàn QSVN thế này: “30-4 năm nay là một ngày đặc biệt trong họ hàng nhà mình. Hai người lính ở hai đầu chiến tuyến ngày xưa nay đã là sui gia. Dù ai có nói gì thì với tôi ngày 30 tháng 4 là một ngày đáng tự hào và hạnh phúc của dân tộc. Lịch sử là lịch sử, qua thời gian người ta có thể có những cách nhìn khác về lịch sử nhưng bản chất của lịch sử thì nó vẫn như vậy”.
Từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống.
Hàng triệu lít chất độc màu da cam mà Mỹ đã rải xuống đất nước này
Nguyễn Hữu Vinh cho rằng, “Ngày 31-3-1973 là ngày mà những người lính Mỹ, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng rút khỏi VN. Nhưng từ ngày 31-3-1973 đến 30-4-1975, chiến tranh vẫn còn hiện diện trên mảnh đất Việt Nam. Gọi như các báo trong nước “38 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”, vậy miền Nam “hoàn toàn giải phóng” khỏi tay ai? Không thể “giải phóng” khỏi Mỹ vì lúc đó Mỹ đâu có mặt ở miền Nam mà “giải phóng”?
Với lập luận này của Nguyễn Hữu Vinh, LâmTrực@ không dài dòng giải thích vì lịch sử Việt Nam đã nói rất rõ, cũng chỉ xin trích lại ý kiến của Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của chế độ Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong sách“Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập” đã đưa ra nhiều thông tin gián tiếp cho thấy sự sống chết của ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, cưu mang của chính phủ Hoa Kỳ, cụ thể bản báo cáo mà Nguyễn Văn Thiệu đã đọc:
“Nếu mức viện trợ quân sự là 1,4 tỷ USD thì có thể giữ được các vùng đông dân cư tại bốn vùng chiến thuật.
Nếu mức viện trợ quân sự xuống 1,1 tỷ USD thì có thể không giữ được Quân khu I.
Nếu mức Viện trợ quân sự còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thủ một vài khu vực.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.”
(Đó chỉ là viện trợ quân sự, chưa tính viện trợ kinh tế vốn không có nhiều cắt giảm).
Cũng theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, có lúc Nguyễn Văn Thiệu đã cay đắng “than thân trách phận” với một dân biểu Mỹ rằng: “Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo.” Sau đó, ông Thiệu phái ông Nguyễn Tiến Hưng đi xin thêm tiền và sau này thuật lại trong quyển sách trên, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc này với “cái nhục của kẻ đi cầu xin”.
B52 đã rải thảm cướp đi biết bao sinh mạng người Việt
Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – Thắng lợi và Bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.316 đã viết: “Ngày 3-4-1973, tại San Clemente thuộc bang Caliphoocnia (Mỹ) diễn ra cuộc hội đàm giữa Tổng thống Mỹ Níchxơn và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên đã ra thông cáo chung, trong đó, phía Mỹ tái khẳng định cam kết sẽ tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn và “Mỹ sẽ trả đũa không thương tiếc mọi vi phạm lệnh ngừng bắn”. Trên thực tế, thay vì phải phá hủy các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam như đã quy định tại Điều 6 của Hiệp định Pari, thì ngược lại, phía Mỹ đã chuyển giao toàn bộ những cơ sở này cho chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đối với số lượng máy bay chiến đấu, quân đội Mỹ không chuyển về nước mà phân tán sang các căn cứ quân sự ở Thái Lan nhằm sẵn sàng chi viện cho quân đội Sài Gòn và can thiệp vào miền Nam Việt Nam khi cần thiết. Từ cuối năm 1972 đến đầu năm 1973, phía Mỹ đã khẩn trương chuyển gấp cho quân đội Sài Gòn tổng cộng 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung dự trữ vật tư chiến tranh là 2 triệu tấn và những viện trợ khác trị giá lên tới 2.670 triệu đô la năm 1973″. Với cứ liệu này, tôi chắc ông Nguyễn Hữu Vinh đã hiểu, vì sao ta gọi là giải phóng dân tộc và miền Nam được giải phóng từ tay ai.
Ngày 27-3-1973, những người lính Mỹ cuối cùng bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 29-3-1973, Bộ Tham mưu quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Tướng Uâyen, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng với 2.510 lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ ra sân bay Tân Sơn Nhất rời khỏi Việt Nam dưới sự kiểm soát và giám sát của Ủy ban quốc tế và các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Cùng ngày, những người lính Nam Triều Tiên và Philíppin cũng lên đường rút về nước. Tuy nhiên:“Thay vì triệt thoái các căn cứ của mình, Mỹ đã trao lại cho Nam Việt Nam trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Hàng tiếp tế được dán nhãn phi quân sự và được coi là đủ điều kiện để chuyển giao. Đoàn cố vấn quân sự được thay thế bằng tổ chức dân sự 9.000 người, trong đó, rất nhiều người được cho giải ngũ và đưa vào phục vụ chính quyền Việt Nam”. Điểm này được coi là sự trảo trở của Mỹ và khẳng định Mỹ vẫn tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam. Sự cuốn gói của họ chỉ mang tính chất tượng trưng để lòe bịp dư luận mà thực chất họ vẫn chỉ đạo, cung cấp mọi điều kiện cho chính quyền Thiệu, ấy là chưa kể đến việc chính quyền Mỹ tiếp tục xúc tiến mạnh mẽ con bài ngoại giao thân thiện với cả Liên Xô và Trung Quốc, khoét sâu vào mâu thuẫn giữa hai cường quốc này để nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự ủng hộ và giúp đỡ của hai nước đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao xảo quyệt của phía Mỹ đã tạo ra những khó khăn và ảnh hưởng nhất định tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Trên thực tế, từ năm 1969 trở đi, Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự; Việt Nam đã không nhận thêm được quả tên lửa nào. Cho tới những năm 1974 -1975 thì nguồn viện trợ của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đáng kể. Nếu như năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 đã tụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 chỉ còn 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng giảm, năm 1973 trị giá 1.415 triệu tê nhưng năm 1974 chỉ còn 452 triệu tệ và năm 1975 là 196 triệu tệ. Tính riêng về vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm chỉ bằng 11% so với năm 1972. Phía Mỹ đã không tính hết được rằng, về đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỏ ra tương đối độc lập: tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của đông đảo nhân dân và các quốc gia trên thế giới; không bị chi phối lớn bởi Liên Xô và Trung Quốc. Mặt khác, lúc này, toàn thể dân tộc Việt Nam đang nỗ lực dồn sức người sức của thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Niềm vui Bắc - Nam thống nhất
Trở lại vấn đề, tôi thấy gọi là chiến thắng hay giải phóng miền Nam là hoàn toàn đúng, ông Vinh có thể thấy vào thời điểm đó miền Nam nước ta là cả một bàn cờ không chỉ có 2 màu quân đen trắng, còn có người Pháp và đồng minh danh nghĩa Trung Quốc cũng tham gia với những toan tính riêng. Do đó ngoài việc xóa sổ chính quyền Sài Gòn, sự kiện 30/4 còn dẹp hết tất cả những màn lén lút của nhưng quốc gia đó. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam thực sự tự chủ trên mảnh đất hình chữ S.
Công bằng mà nói, tôi thấy giáo sư Trần Chung Ngọc, giáo sư Trần Mạnh Quang chẳng phải là những người lính Ngụy đáng khâm phục hay sao. Họ bại trận, họ một thời lầm lỗi, nhưng giờ họ đã nhận ra, thức tỉnh và trở về giúp đỡ quê hương dưới nhiều hình thức, từ vật chất đến ngòi bút chống lại những âm mưu phá hoại đất nước. Họ có thể không cùng chung lý tưởng Cộng Sản, họ cũng thừa biết Việt Nam hiện giờ còn nhiều yếu kém và tệ nạn, nhất là tệ nạn tham nhũng, nhưng họ luôn chung một dòng máu Việt Nam, và luôn chung một mong muốn xây dựng đất nước. Họ đã vứt cái “hận thù” và cái “mặc cảm bại trận” ấy đi từ lầu rồi. Ông Nguyễn Hữu Vinh có nên học hỏi những tấm gương người Việt đó không?
Thanh Hóa, ngày 1 tháng 5 năm 2013
————————————————————————————–
Đây, Basam viết sàm như thế này đây:
Gọi tên gì cho cuộc chiến?
Ngày 31-3-1973 là ngày mà những người lính Mỹ, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng rút khỏi VN. Nhưng từ ngày 31-3-1973 đến 30-4-1975, chiến tranh vẫn còn hiện diện trên mảnh đất Việt Nam.
Gọi như các báo trong nước “38 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”, vậy miền Nam “hoàn toàn giải phóng” khỏi tay ai? Không thể “giải phóng” khỏi Mỹ vì lúc đó Mỹ đâu có mặt ở miền Nam mà “giải phóng”?
Không thể gọi đây là cuộc chiến “Chống ngoại xâm”, “Giải phóng miền Nam” hay chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”… bởi vì trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, đã xảy ra chiến tranh ở 2 miền Nam – Bắc và sau khi Mỹ rút quân thì Nam – Bắc vẫn tiếp tục đánh nhau (vả lại, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam thì ở miền Bắc cũng đã có sự hiện diện của của quân Liên Xô và Trung Quốc).
Vậy thì, chúng ta nên gọi tên gì cho cuộc chiến này cho đúng nghĩa của nó? Nội chiến? Chiến tranh ý thức hệ? Huynh đệ tương tàn?
———–
LâmTrực@ / trandaiquang.net

Tổng thống Iran bị bắt

Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadineja bị bắt và bị giam trong 7h đồng thời được cảnh báo không tiết lộ những thông tin có thể tổn hại tới Chính phủ Hồi giáo ở nước này. 

Ông Mahmoud Ahmadinejad
Ông Mahmoud Ahmadinejad

Ông Mahmoud Ahmadinejad bị lực lượng vệ binh cách mạng giam giữ trong 7h hôm 29/4 và được yêu cầu không để lộ việc chính phủ đã gian lận tại cuộc tổng tuyển cử gần đây nhất cũng như các cáo buộc gian lận chống đối thủ chính trị.

Các nguồn tin cho hay, sau chuyến thăm Hội chợ sách quốc tế lần thứ 26 ở Tehran hồi đầu tuần này, đội trưởng đội an ninh của người đứng đầu Iran được lệnh ông Ahmadinejad phải có mặt tại văn phòng lãnh đạo tối cao Ali Hosseini Khamenei vì một việc khẩn.

Trên đường tới chỗ họp, liên lạc giữa nhóm an ninh của đoàn xe Tổng thống bị tắc trong khi có ba chiếc xe khác gia nhập đoàn xe, chỉ dẫn xe đi đầu đi theo hướng khác. Ông Ahmadinejad thay vì được đưa tới văn phòng lãnh đạo tối cao, lại được đưa tới một địa điểm bí mật nằm ở một trong những tòa nhà thuộc về Bộ Ngoại giao, hiện nằm dưới sự kiểm soát của đơn vị tình báo thuộc lực lượng vệ binh cách mạng.


Ngay khi ông Ahmadinejad rời xe, ông và đội an ninh đã có một cuộc đấu khẩu với các thành viên của lực lượng vệ binh cách mạng. Tiếp đó, đội bảo vệ của Tổng thống bị tước súng, thiết bị liên lạc bị tịch thu và ông Ahmadinejad bị ép bước vào văn phòng của Hossein Taeb, người đứng đầu đơn vị tình báo, nằm bên dưới tòa nhà.


Trong khi đó, nhiều phụ tá của Tổng thống ở Tehran bị xét hỏi về sự hiện diện của các tài liệu có thể gây tổn hại cho chính quyền hiện nay. Sau khi bị thẩm vấn, ông Ahamadinejad được thả.

Các nhà ngoại giao Anh và Mỹ tại khu vực đều biết sự việc trên và rất thích thú theo dõi.

Vụ bắt giữ diễn ra vài giờ sau khi một hãng tin thuộc chính quyền nước này cho hay, ông Ahmadinejad dọ sẽ công bố các đoạn ghi âm chứng tỏ cử tri trong cuộc bầu cử năm 2009 bị lừa, trước khi tổng tuyển cử diễn ra ở nước này vào tháng tới.

Đây là diễn biến mới nhất trong quan hệ đang xấu đi giữa ông Ahmadinejad và lãnh đạo tối cao, các đối thủ chính trị - những người cho rằng lập trường chính trị của ông này đang chuyển từ bảo thủ truyền thống sang cánh hữu.

Hoài Linh

(Theo WN, DailyMail)

Wednesday, May 1, 2013

Số phận 10 nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn sau 1975


Số phận của họ đi theo những ngả đường khác nhau, người ở lại đất nước và được trọng dụng, người ra đi và sống lặng lẽ nơi xứ người…